Chợ Đu quê tôi được hình thành từ
khi nào hiện không ai nhớ nữa. Nhưng theo lời những người già ở đây kể
lại thì chợ Đu có từ thời thuộc Pháp. Chợ Đu nằm kề quốc lộ số 3 thuộc
làng Đu mà từ xa xưa người dân
nơi đây quen gọi là phố Đu. Tôi còn nhớ cách đây hơn 40 năm, chợ Đu
ngày đó chỉ là một bãi đất hoang độ dốc thoai thoải tự nhiên, rộng chừng 2
ha có những cây phượng vĩ bóng cao che rợm cả một khoảng trời, mỗi
khi hè về hoa phượng nở đỏ rực như lửa. Đúng ngày chợ họp mọi
người ở khắp nơi đổ về, người từ Ôn Lương, Hợp Thành, Phủ Lý ra,
người trên Quán Vuông, chợ Trào xuống, người dưới Phấn Mễ, Giang Tiên,
Thái Nguyên ngược lên mang theo những nguồn hàng nông, lâm, thổ sản từ các
làng quê về chợ. Hàng hóa ở chợ mùa nào thức nấy, sản phẩm của
núi rừng phong phú vô cùng. Tháng 5 - 6 có măng mai, măng tre, trám
trắng, trám đen, có mậm, có đào, có dâu da, có mít, dứa, tháng 7- 8
có măng giang, măng nứa, có ổi, có bòng, có chuối, có hồng... và cả
những dậu sim chín mọng được bà con hái từ những ngọn đồi xa mang
đến. Mới đầu chợ hình thành để đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa nông
thổ sản của địa phương cùng với những thương nhân miền xuôi đem các mặt hàng
thiết yếu như muối, vải, chum, vại, dầu hỏa lên trao đổi, mua bán với người dân
địa phương rồi lại mua các sản phẩm của rừng núi như măng, trám, sắn, mây,
song, quạt cọ và nhiều nông sản khác về xuôi. Cứ thế chợ Đu trở thành đầu
mối giao thương từ thuở nào cũng chẳng ai biết nữa. Cũng từ đó mà
cái tên chợ Đu ngày càng trở nên gắn bó thân thiết với các thế hệ
người dân quê tôi.
Chợ Đu họp 5 ngày một phiên vào
các ngày mồng 4, mồng 9, 14, 19, 24, 29 âm lịch hàng tháng. Lịch họp này được
duy trì như thế cho đến năm 1976 người ta mới đổi sang ngày dương mà không
theo ngày âm nữa nhưng vẫn lấy ngày 4, ngày 9 như người xưa đã đặt. Ngày đó
chợ Đu chưa hề có lều lán, hàng hóa được mọi người bày bán ngay
trên nền đất, thảm cỏ, chợ được chia ra thành từng dãy, dãy bán rau
quả, dãy bán nông thổ sản, dãy bán gà, bán lợn, đáng chú ý nhất
là dãy hàng xén, đây là khu cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho mọi
sinh hoạt của người dân, từ cái kim, cuộn chỉ, viên đá lửa, chiếc
bấc đèn, đến vải vóc, áo quần, khăn mặt, chiếu cói, chăn bông, rồi
bút mực, giấy vở và không thể thiếu được những đồ chơi của con trẻ
... tất cả đều được bày bán ở dãy hàng này, lũ trẻ chúng tôi
thường hay la cà nhìn ngó rất lâu mỗi khi có dịp được đi chợ, bởi
đối với chúng tôi khi đó cái gì cũng lạ, cũng thích... gặp phải
những ngày mưa thì các hàng xén phải dùng vải mưa để đậy hàng hóa,
khách cần mua gì thì hỏi, người bán sẽ đưa hàng cho. Hết buổi chợ,
mọi người ra về chỉ còn trơ lại khu đất trống không với những lá
gói hàng hóa bị vứt bỏ tứ tung. Ông già quét chợ lại lom khom cả
ngày để quét dọn chờ đến phiên chợ sau. Người quét chợ ngày đó
cũng được bà con trả công bằng chính những thứ hàng mà họ bán, có
khi là bơ gạo, mớ rau, con cá, mấy chị hàng xén thì trả cho người
quét chợ khi bao diêm, hay chiếc khăn mặt, lúc dăm ba hào ...việc trả
công cũng chỉ mang tính ước lệ, đại khái, ai trả thì trả, không trả
cũng chẳng sao. Dăm bảy phiên người quét rác mới thu một lần.
Tuổi thơ tôi lớn lên với
những khát khao nhỏ nhỏ được khơi gợi ngay từ những món quà mà mẹ
mua về từ chợ Đu cho anh em chúng tôi, đó là những tấm mía bầu ngọt
lịm, hay mấy chiếc bánh đa vừng giòn tan, thơm phức, những phiên chợ
giáp tết trong gói quà của chúng tôi thường có thêm những con tò he
được nặn bằng bột gạo, nhuộm phẩm màu xanh đỏ, khi đã chơi chán là
có thể ăn luôn... chính những món quà đó đã gợi những ước mơ cho
chúng tôi. Khi lớn một chút vào những phiên chợ tết mẹ thường cho tôi
đi chợ cùng. Chợ đối với tôi khi đó giống như một “thiên đường” vậy,
tôi nhìn không chán mắt những thứ được bày trong dãy hàng xén, nào
quần áo, nào đồ chơi... rồi tranh ảnh và hoa tết nữa, những cành hoa
giấy và đôi câu đối tết cùng vài bức tranh phong cảnh luôn là nhưng
thứ mà lũ trẻ chúng tôi ngày đó rất thích và đòi mẹ cho tiền để
mua bằng được. Các món hàng ngày ấy cái gì đối với tôi cũng lạ,
cũng thích... mẹ nắm chắc tay tôi, chen chúc trong dòng người đông đúc
nhích đi từng bước tìm đến chỗ người quen để mua hàng...
Chợ Đu từ lâu đã nổi tiếng khắp
vùng. Bởi đây là nơi hội họp của hầu hết nhân dân huyện Phú Lương. Ngày đó người
ở xa đi chợ thường đi bộ hay xe ngựa, và phải đi từ chiều tối hôm trước hoặc
từ 1, 2 giờ đêm. Đây là chợ to nhất vùng, tập trung và thu hút nhiều thương lái
ở khắp mọi vùng về tụ hội, mua bán. Năm 1966 để tránh máy bay Mỹ nên chợ Đu
được sơ tán vào khu bãi Trẹo ở xóm làng Chảo thuộc xã Động Đạt (đó là một bãi
toàn những cây trẹo to, tán lá xanh rì phủ kín mặt đất rất phù hợp với việc
phòng tránh máy bay Mỹ). Sau khi Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc,
năm 1968 chợ Đu lại chuyển về địa điểm cũ. Đến cuối năm 1971, cuộc chiến tranh
phá hoại lần 2 của Mỹ ra miền Bắc thì chợ Đu lại sơ tán về Làng Lân thuộc xã
Phấn Mễ. Đến đầu năm 1973, khi hiệp định Pa Ris được ký kết. Chợ Đu lại chuyển
về địa điểm cũ như hiện nay. Năm 1993, kinh tế phát triển và do nhu cầu giao
thương, huyện Phú Lương đã tiến hành quy hoạch và xây dựng chợ Đu theo hướng
hiện đại có nhà xây chia ra thành từng khu, từng lô, từng quầy, bán cho các
hộ kinh doanh. Những năm sau đó chợ Đu ngày càng sôi động, ngoài những phiên
chợ chính thì ngày nào chợ cũng họp. Nhưng nếu khách muốn tìm hiểu sâu về chợ
thì nhất thiết phải đến đúng vào những ngày chợ phiên. Những phiên chợ tết
giờ đây thường kéo dài cả ngày, không khí chợ càng trở nên đông vui,
nhộn nhịp. Hồn quê hòa quyện vào trong từng gian hàng tết, lòng
người vì thế mà như rộn ràng thêm.
Chợ Đu giờ đây là nơi hoạt động
kinh doanh của hơn 300 hộ dân với khá nhiều ngành nghề khác nhau như : Hàng may
mặc, hàng nông sản thực phẩm, hàng tiểu thủ công, hàng điện tử.... và tất
nhiên không thể thiếu những hàng quán phục vụ ăn uống. Tại đây có tới
hàng chục hàng ăn các loại phục vụ khách từ cơm phở bình dân, đến những hàng ăn
đặc sản mang đậm hương vị của núi rừng Việt Bắc với những chủ quán vừa nhanh
nhẹn, vui tính, vừa sởi lởi, khéo léo sẵn sàng làm hài lòng quý khách bằng
những thực đơn và tài nghệ chế biến các món ăn của mình. Những chiều đông
giá lạnh có dịp cùng bạn bè ngồi quanh chậu than hồng của những cô
gái Tày xinh xắn, khuôn mặt trắng hồng, vừa cười nói rất duyên, vừa
quạt than nướng ngô. Khách vừa ăn ngô, vừa tán chuyện, mùi thơm của
ngô nướng gợi bao nỗi nhớ thương về một miền quê yên ả. Mạnh mẽ hơn
thì rủ nhau vào quán rượu gọi đĩa ốc luộc hay mấy cái chân gà và
cùng nhau nhâm nhi những chén rượu men lá, tâm hồn bỗng thấy thư thái
và hứng khởi lạ thường.
Tháng năm dần qua, chợ Đu giờ
đã thay đổi nhiều, nhưng tình người thì vẫn nồng thắm như xưa. Chợ
vẫn mang dáng dấp thôn quê với những người mẹ tảo tần quẩy trên vai
gánh rau, hay thồ sau xe bao gạo ra chợ bán, để rồi lại tất bật trở
về sau khi bán hàng xong, họ mang về cho gia đình của mình những niềm
vui nho nhỏ, những em bé hân hoan đón từ tay mẹ gói quà, hay chiếc
áo, quyển vở... niềm vui ấy thật bình dị mà sao vẫn khiến ta bồi
hồi nhớ mãi.
Tháng 10/2013
Bùi Nhật Lai
No comments:
Post a Comment